Tin tức

Những cuộc chiến vì dầu mỏ của xứ sở sương mù (Kỳ II)

(Petrotimes) - Câu hỏi chính được đặt ra: Vì sao người Anh lại cần đến cuộc chiến chống Gaddafi? Câu trả lời cũng rất đơn giản: An ninh năng lượng của Anh đang có nguy cơ bị đe dọa. Các mỏ dầu của họ tại biển Bắc đang cạn kiệt nhanh chóng.

Những quyết định tại Downing Street

Greg Muttitt, tác giả cuốn sách “Fuel on Fire”, là người đã khai thác được hàng ngàn tài liệu mật của Chính phủ Anh dựa trên luật tự do thông tin. Những tài liệu này là minh chứng rõ ràng cho thấy, Chính phủ Anh đã bí mật thỏa thuận với các công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới về những triển vọng khai thác dầu tại Iraq ngay từ năm 2002, tức gần một năm trước khi liên quân Anh – Mỹ can thiệp quân sự vào Iraq.

Nội dung một loạt biên bản những cuộc gặp giữa các bộ trưởng Anh với giới chức lãnh đạo hàng đầu các công ty dầu mỏ cho thấy chúng hoàn toàn trái ngược với những quả quyết của đại diện các công ty dầu mỏ Anh cũng như Chính phủ Tony Blair về việc họ “chẳng có bất cứ quyền lợi cá nhân nào trong chuyện chiếm đóng Iraq”. Chẳng hạn như vào ngày 6/2/2003, Blair đã to mồm thanh minh: “Giả thuyết về âm mưu giành nguồn lợi dầu mỏ là một trong những điều vô lý nhất nếu như phân tích một cách toàn diện. Thực tế là nếu như chúng tôi lo ngại về vấn đề dầu mỏ của Iraq, tôi nghĩ hoàn toàn có thể thỏa thuận với Saddam về vấn đề này ngay hôm sau. Vấn đề ở đây không phải là dầu mỏ mà là vũ khí hủy diệt hàng loạt”.

Những người chiến thắng trong cuộc chiến Libya đều đã có phần của mình: Thủ lĩnh NTC Mustafa Abdul-Jalil (giữa) giành được chính quyền; Sarkozy (trái) và Cameron (phải) được quyền kiểm soát nhiều mỏ dầu tại đây

Nhưng các tài liệu đề mốc thời gian tháng 10 và 11/2002 lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Theo tờ The Independent của Anh số ra tháng 4/2011, 5 tháng trước khi Anh tấn công Iraq, “nam tước phu nhân Simons, từng là Bộ trưởng Ngoại thương, đã kể với BP rằng theo ý kiến của Chính phủ Anh, các công ty năng lượng của Anh cần phải nhận được một phần các mỏ dầu trữ lượng lớn tại Iraq dưới dạng phần thưởng cho quyết tâm của Tony Blair sẵn sàng ủng hộ cho các kế hoạch của Mỹ nhằm thay đổi chế độ tại quốc gia này bằng hành động quân sự”.

Những tài liệu được công bố cũng cho thấy, Bộ trưởng Ngoại thương và đầu tư Simons đã đồng ý vận động hành lang cho quyền lợi của British Petroleum trong chính quyền Bush-con, do tập đoàn này lo ngại “bị ra rìa trong việc phân chia các mỏ dầu tại Iraq sau chiến tranh”. Biên bản cuộc gặp vào ngày 31/10/2002 giữa các thành viên Chính phủ Anh với các công ty năng lượng hàng đầu của nước này (BP, Shell, British Gas) viết: “Nam tước phu nhân Simons đồng ý rằng, khó có thể chấp nhận chuyện các công ty của Anh không nhận được gì tại Iraq, sau khi Anh đã ủng hộ Chính phủ Mỹ vô điều kiện trong suốt thời gian cuộc khủng hoảng”. Nữ bộ trưởng này còn hứa hẹn “sẽ thông báo cho các công ty trước lễ giáng sinh” về kết quả các nỗ lực vận động hành lang của mình.

Chỉ một tuần sau, ngày 6/11/2002, Bộ Ngoại giao Anh đã mời các đại diện của BP tới để bàn bạc về các khả năng tại Iraq “sau khi thay đổi chế độ”. Trong biên bản có ghi rõ: “Iraq có những triển vọng dầu mỏ lớn. BP đang cố gắng một cách tuyệt vọng để xâm nhập vào đây, nhưng lo ngại các vấn đề chính trị sẽ ngăn cản họ đạt được mục tiêu này”. Ngay sau một trong những cuộc gặp như vậy trong tháng 10/2002, Giám đốc ban Trung Đông của Bộ Ngoại giao Anh là Edward Chaplin đã tuyên bố: “Shell và BP không thể cho phép mình không nhận được phần nào tại Iraq, do tương lai dài hạn của họ phụ thuộc vào điều này. Chúng tôi luôn phấn đấu để các công ty Anh sẽ nhận được phần chia công bằng tại Iraq thời hậu Saddam”. Tất cả những dữ kiện trên đều cho thấy một kết luận duy nhất: Quyết định thay đổi chế độ tại Iraq đã được Downing Street thông qua ngay từ cuối năm 2002.

BP bề ngoài vẫn quả quyết với công luận quốc tế rằng, công ty này “chẳng có bất cứ quyền lợi chiến lược nào” tại Iraq. Như người đứng đầu BP khi đó là huân tước Brown đã nhấn mạnh vào ngày 12/3/2003: “Cả tôi cũng như BP đều không cho rằng, đây là cuộc chiến tranh vì dầu mỏ. Iraq là nhà sản xuất quan trọng, nhưng họ phải tự mình giải quyết chuyện tài sản và dầu mỏ của mình”. Nhưng cũng chính nhân vật này trong những cuộc trò chuyện riêng tư với các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ đã khẳng định, vấn đề Iraq “quan trọng hơn bất cứ điều gì mà chúng tôi đã phải đương đầu trong một thời gian dài trước đây”.

Vấn đề là British Petroleum và Mỹ đều lo ngại rằng, Saddam Hussein sẽ gia hạn thỏa thuận với Hãng dầu mỏ Total Final Elf của Pháp. Việc gia hạn hợp đồng sẽ biến công ty này của Pháp trở thành tập đoàn dầu mỏ lớn nhất thế giới (nếu tính tới việc Iraq đang nắm giữ vị trí thứ hai sau Arập Xêút về trữ lượng dầu mỏ).

Những gì đã diễn ra sau khi chế độ của Saddam Hussein sụp đổ là những minh chứng rõ ràng nhất. Các hợp đồng với thời hạn 20 năm được ký kết sau chiến dịch quân sự tại Iraq đều được xếp vào loại lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp dầu khí. Tất cả liên quan đến số phận của khoảng 1/2 trữ lượng dầu mỏ của Iraq (khoảng 60 tỉ thùng), một phần lớn trong số này được dành cho British Petroleum. Thời gian gần đây, người Anh chắc chắn đang “thu đậm” với việc Iraq tăng sản lượng khai thác dầu lên mức cao nhất trong 10 năm qua, đạt ngưỡng 2,7 triệu thùng mỗi ngày để bù đắp cho sản lượng xuất khẩu thiếu hụt của Libya. Mục tiêu đảm bảo nguồn cung dầu mỏ giá rẻ của Washington và London đã hoàn tất.

Libya – mục tiêu của “học thuyết dầu mỏ” của London

Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sự can thiệp của NATO vào Libya vẫn không có gì khác ngoài những trữ lượng dầu mỏ lớn đã được xác nhận – khoảng 44,3 tỉ thùng kèm theo những vỉa khí đốt thiên nhiên 1,6 ngàn tỉ mét khối tại quốc gia này. Trước chiến tranh, Libya mỗi ngày khai thác từ 1,5 đến 1,6 triệu thùng dầu, bằng 6% sản lượng khai thác chung của OPEC. Dầu nguyên liệu của Libya được xếp vào loại hàng đầu về chất lượng, chưa kể các mỏ đều nằm gần các nhà máy lọc dầu của châu Âu.

Còn có những đánh giá cho rằng, trữ lượng dầu của Libya trên thực tế phải tới 100 tỉ thùng. Theo như khẳng định từ năm 2007 của trưởng đại diện công ty Pháp Total tại Libya là Philippe Maljaque, “Libya hiện giờ là một trong không nhiều nước có lãnh thổ rộng lớn nhưng lại chưa triển khai toàn diện việc thăm dò dầu khí”. Ý kiến tương tự về nguồn tài nguyên của Libya có thể đọc được trong những công văn ngoại giao được WikiLeaks tiết lộ. Như trong một bức điện đề tháng 9/2009, người đứng đầu Hãng dầu mỏ Quốc gia Libya khi đó (NOC – National Oil Corporation) là Ali Sugheir đã tuyên bố với các đại diện của Đại sứ quán Mỹ rằng, Libya đã phát hiện ra “những bể kết tủa lớn dầu mỏ và khí đốt”, rằng các dữ liệu thăm dò địa chấn cho thấy còn có nhiều mỏ như vậy trên khắp đất nước.

Vì nguồn lợi dầu mỏ, Tony Blair đã phải ra điều trần trước Ủy ban độc lập điều tra nguyên nhân cuộc chiến Iraq

Những thông tin hấp dẫn trên đối với các công ty dầu mỏ quốc tế chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới quyết định gỡ bỏ lệnh cấm vận quốc tế đối với Libya. Tuy nhiên, tất cả đều đã vỡ mộng với hy vọng sẽ nhận được những khoản siêu lợi nhuận tại Libya, tất cả là do chính quyền Gaddafi vẫn thể hiện tinh thần của “chủ nghĩa dân tộc liên quan đến các nguồn tài nguyên”. Các tập đoàn dầu mỏ và khí đốt đang hoạt động tại Libya đã buộc phải ký kết lại hợp đồng của mình với Chính phủ Libya dựa theo bản chỉnh sửa mới nhất của Thỏa ước thăm dò và phân chia sản phẩm (EPSA IV). Các công ty cỡ lớn tại Bắc Mỹ và châu Âu trong giai đoạn 2007-2008 đã phải ký những thỏa thuận mới kém hấp dẫn hơn với NOC. Đó là chưa kể họ phải trả cho Chính phủ Libya khoản tiền tổng cộng 5,4 tỉ USD dưới dạng “tiền ứng trước”.

Trong một công văn gửi tháng 6/2008, giới chức ngoại giao Mỹ tiếp tục đưa ra một vấn đề được đánh giá là đáng lo ngại: Liệu chính quyền Gaddafi có tuân thủ điều kiện từ các hợp đồng mới hay họ lại tìm cách “tăng thêm tỉ lệ phân chia của mình?”. Các quan chức ngoại giao Mỹ trong công văn vẫn thừa nhận, “các công ty dầu mỏ dù sao vẫn kiếm được nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi thùng dầu khai thác được”. Tuy nhiên theo họ, nguy cơ bắt buộc phải ký kết lại hợp đồng tại Libya vừa qua đã tạo ra “một tiền lệ quốc tế nguy hiểm có thể lặp lại tại các quốc gia sản xuất dầu khác trên khắp thế giới”.

Tháng giêng năm 2009, trong một hội nghị truyền hình với sinh viên đại học Georgetown (Mỹ), Gaddafi đã chẳng e ngại đe dọa sẽ quốc hữu hóa toàn bộ ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt, một thông tin đã khiến các chính trị gia phương Tây phải lo ngại thực sự. Vào thời điểm quyết định gỡ bỏ cấm vận Libya, phương Tây không ngờ rằng, giới lãnh đạo quốc gia Bắc Phi này đã lợi dụng tình hình để phát triển quan hệ làm ăn với các nước từ phương Đông. Một công văn trong tháng 6/2008 đã chỉ ra “sự bùng phát mối quan tâm đối với Libya từ phía các công ty dầu mỏ quốc tế không phải của phương Tây (cụ thể từ Ấn Độ, Nhật, Nga và Trung Quốc), gần đây đã nhận được một số lượng lớn các hợp đồng từ NOC”.

Những “tay chơi mới” này hoàn toàn có thể tạo ra một cuộc đua cạnh tranh thực sự với những gã khổng lồ về dầu mỏ của Mỹ và châu Âu. Ngay từ đầu năm 2011 đã ghi nhận việc triển khai dự án tuyến đường ống dẫn dầu Sudan – Libya – một tuyến ống dẫn xuyên châu Phi đầu tiên không thuộc quyền kiểm soát của phương Tây. Tuyến đường ống này dự kiến sẽ kết nối Biển Đỏ với Địa Trung Hải, thông qua lộ trình Port Sudan – Khartum – Fezzan – Bengazi. Đường ống này nếu đi vào hoạt động sẽ làm tăng cường sức mạnh liên minh Libya – Sudan, đang có xu hướng xích lại gần các quốc gia như Iran và Trung Quốc. Một số chuyên gia còn cho rằng, liên minh trên còn có thể lôi kéo Ai Cập xa rời phương Tây để gia nhập vào quỹ đạo của mình.

Với tất cả những lý do trên, chẳng có gì ngạc nhiên khi tờ Expression của Algeri khẳng định rằng, chiến dịch quân sự chống lại Libya của Anh và Pháp đã được lập kế hoạch từ khá lâu so với thời điểm bắt đầu. Theo dữ liệu của tờ báo này, Anh và Pháp ngay từ tháng 12/2010 đã bắt đầu chuẩn bị cho một loạt những kế hoạch diễn tập chung với mật danh “Nam Mistral”, dự định triển khai trong giai đoạn từ 21 đến 25/3/2011. Theo chủ định của kế hoạch này, các đồng minh cần phải tấn công một quốc gia nào đó được mệnh danh là “Vùng đất phương Nam” tại khu vực Địa Trung Hải, nơi đang có “một chế độ độc tài” lãnh đạo. Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ Anh – Pháp trong kế hoạch này được coi là hành động đầu tiên của trục đồng minh London – Paris mới hình thành cách đây không lâu, sau khi cả hai nước vào năm ngoái cùng đặt bút ký một thỏa thuận về việc thành lập một lực lượng hạt nhân chung của liên minh châu Âu.

Chính phủ Anh là người đi đầu trong việc khởi động cuộc chiến Libya. Đến cuối tháng 2/2011, London đã chính thức tuyên bố sẵn sàng can thiệp vào Libya chỉ bằng lực lượng của mình. Theo Sky News, Chính phủ Anh từ ngày 2/3/2011 đã quyết định chuyển các máy bay Typhoon của không quân sang căn cứ quân sự của mình tại đảo Síp, chuẩn bị cho việc phong tỏa không phận Libya. Phát biểu trước hạ viện, Thủ tướng David Cameron tuyên bố đã ra lệnh cho tham mưu trưởng quân đội, tướng David Richards “soạn thảo kế hoạch thiết lập vùng cấm bay trên không phận Libya”.

Cũng trong thời gian này (đầu tháng 3/2011), tờ The Guardian nhận xét, “chính quyền Obama không hề mặn mà với đề xuất triển khai vùng cấm bay tại Libya, gọi đó là vấn đề khó khăn xét từ quan điểm quân sự và không thuận lợi từ quan điểm ngoại giao. Sự thiếu nhiệt tình của Washington hoàn toàn trái ngược với quan điểm của London cùng với những lời kêu gọi trực tiếp sử dụng vũ lực của David Cameron”.

Hiểu rõ đơn phương đánh Gaddafi sẽ rất bất tiện về mặt chính trị, London đã khôn khéo lùi lại phía sau trong vai trò thúc đẩy Nicolas Sarkozy. Anh đã hứa hẹn với Pháp rất nhiều, trước tiên là việc phân chia thị trường dầu mỏ của Libya theo hướng có lợi cho cả hai nước. Cần nói thêm là vào thời điểm này, Paris đã bắt đầu “nóng mặt” với Gaddafi: Tập đoàn Dầu mỏ Total của Pháp trước đó không lâu đã phải đứt ruột chi trả 500 triệu USD tiền bồi thường theo yêu cầu của nguyên thủ Libya. Ngoài ra, Total cũng bị ép thất bại trước khá nhiều nhà thầu Libya khác trong các dự án liên doanh khai thác dầu. Tóm lại, lòng tự hào của người Pháp đã bị tổn thương, đủ để họ quyết tâm trừng trị Gaddafi.

Tờ Liberation của Pháp số ra ngày 1/9/2011 cho biết, Paris ngay từ tháng 4 đã có được lời hứa hẹn của Hội đồng chuyển tiếp dân tộc Libya (NTC) trao cho Pháp quyền kiểm soát 35% số mỏ dầu của Libya để đổi lấy sự ủng hộ toàn diện và vô điều kiện của nước này.

Câu hỏi chính được đặt ra: Vì sao người Anh lại cần đến cuộc chiến chống Gaddafi? Câu trả lời cũng rất đơn giản: An ninh năng lượng của Anh đang có nguy cơ bị đe dọa. Các mỏ dầu của họ tại biển Bắc đang cạn kiệt nhanh chóng. Anh cũng đang phải nhập khẩu tới 40% lượng khí đốt và trong tương lai không xa sẽ phải nhập khẩu toàn bộ. Các mỏ than của Anh về cơ bản cũng đã hết từ thời Margaret Thatcher. Chính vì vậy, người Anh đã đặc biệt lo sợ khi biết được quyết định của Gaddafi giảm bớt tỉ lệ tham gia của các công ty nước ngoài vào các mỏ dầu Libya từ 50 xuống còn 20%.

Giọt nước tràn ly sự chịu đựng của London chính là việc Tripoli bắt tay vào đàm phán về khả năng thành lập một tổ chức tương tự như OPEC trong lĩnh vực khí đốt. Người Anh còn tỏ ra “thèm thuồng” hơn khi chứng kiến những khoản tiền khổng lồ từ việc bán dầu được Gaddafi liên tục chuyển vào các ngân hàng phương Tây. Theo thừa nhận của cựu Bộ trưởng Năng lượng Libya, chế độ Gaddafi đã chuyển ra nước ngoài số ngoại tệ từ 200 đến 250 tỉ USD (riêng tại Mỹ là 34 tỉ USD). Sau khi chiến tranh kết thúc, NTC chỉ được phương Tây “giải ngân” từ 10-15 tỉ USD để khôi phục lại hoạt động của các mỏ dầu. Chẳng ai được biết số tiền của Gaddafi còn lại ở nước ngoài giờ đang ở đâu. Có lẽ chúng sẽ nằm lại vĩnh viễn tại các ngân hàng của châu Âu và Mỹ.

Thời thế vẫn liên tục thay đổi, nhưng phương pháp lật đổ các nguyên thủ nước ngoài vì nguồn lợi dầu mỏ vẫn là “truyền thống” của người Anh: Gaddafi đã bị lật đổ tương tự như số phận của Mosaddegh 50 năm trước; còn việc người Anh tràn vào Iraq năm 2003 chỉ là sự lặp lại với kết thúc thành công hơn kịch bản tại Ai Cập cách đó nửa thế kỷ.

Hồng Sơn


Tin cũ hơn cùng chuyên mục